Huế Học là gì?

Trang chủ · Giới thiệu · Mục đích Website

Nghiên cứu Huế và Huế học

Tỉnh Thừa Thiên Huế đang phấn đấu nghiên cứu làm rõ nguồn di sản văn hóa không nơi nào có được của tỉnh để đến năm 2025 thực hiện Nghị quyết 54 của Bộ Chính trị tỉnh Thừa Thiên Huế được chuyển thành thành phố di sản trực thuộc Trung ương. Việc nghiên cứu Huế đang được nhà nước và giới cầm bút đặc biệt quan tâm. Bên cạnh tên tuổi của các nhà nghiên cứu Huế đang xuất hiện danh xưng các “nhà Huế học”. Nghiên cứu Huế và Huế học có gì khác nhau không?

  1. Nghiên cứu Huế

Tài sản có giá trị lớn nhất của tỉnh Thừa Thiên Huế là di sản văn hóa Huế. Di sản văn hóa Huế là cái hồn của dân tộc. Phải nghiên cứu Huế để học Huế, biết rõ giá trị của di sản văn hóa Huế để phát triển di sản văn hóa Huế thành tài sản của Huế. Giống như người nông dân phải biết chất đất, giá trị của đất để bắt đất đẻ ra tiền. Phải nghiên cứu mới biết được Huế có từ năm Công chúa Huyền Trân về làm dâu Chiêm Quốc (1306). Nước Đại Việt nhận được món quà sính lễ bằng hai châu Ô, Lý. Các vua Trần đổi Ô, Lý thành châu Thuận (順)(bằng lòng) và châu Hóa (化) thay đổi - theo Đại Việt). Hóa (化)từ Hán Việt). Người địa phương hay đọc trại “oa” thành “uê” như “hòa” thành “huề” “huề cả làng”. Do đó nhiều nhà nghiên cứu tiền bối giải thích: Từ Hóa (Hán Việt) đọc trại ra thành Huế (thuần Việt). Tuy nhiên các văn bản viết chữ Hán Việt khi gặp chữ Huế vẫn phải dùng chữ nguyên gốc của nó là Hóa (化)

Nghiên cứu Huế nghiên cứu những đề tài có từ Huế: Triều đình Huế, Cố đô Huế, Thành phố Huế, Người Huế, dân Huế, tiếng Huế, giọng Huế, Văn hóa Huế, Ca Huế, thơ Huế, màu tím Huế, nón Huế, tuồng Huế, nhà vườn Huế, chùa Huế, Quốc học Huế, Đồng Khánh Huế, Đại học Huế, Ẩm thực Huế (bún bò Huế, chè Huế), lụt bão Huế.v.v.

Và nghiên cứu cả những Huế mà không có chữ Huế: chợ Đông Ba, làng An Cựu, làng Vỹ Dạ, nhà rường, cơm hến, sông Hương, sông Bồ, phá Tam Giang, biển Thuận An, Núi Ngự Bình, Bến đò Thừa Phủ, Ông Già Bến Ngự, ông hoàng bà chúa, áo dài, Ngự thiện, món ăn cung đình, sen hồ Tịnh, Thanh trà Nguyệt Biều, Quýt Hương Cần, Dâu Truồi, cá nước lợ.v.v. (Theo Từ điển Tiếng Huế của Bùi Minh Đức thì Huế có cả ngàn đề tài).

Nhiều đề tài phải nghiên cứu viết thành một cuốn sách dày (ca Huế, ẩm thực Huế), hay phải có cả một công trình khoa học mới hiểu hết được (triều đình Huế, lăng tẩm Huế). Việc này các nhà nghiên cứu Huế - đặc biệt là bộ Tập san Đô Thành Hiếu Cổ (Bulletin des Amis du Vieux Huế), hơn 100 năm trước đã thực hiện và có lẽ thêm nhiều thập kỷ nữa chưa chắc có thể nghiên cứu hết được.

  1. Huế học – Nhà Huế học (culturaliste de Hue)

Nhà Huế học trước tiên ông phải là nhà nghiên cứu Huế. Người đầu tiên là Nguyễn Trãi (Dư địa chí, 1435), đến Dương Văn An (Ô Châu Cận Lục), Nguyễn Khoa Chiêm (Nam Triều Khai Quốc Diễn Chí), Lê Quý Đôn (Phủ Biên Tạp Lục), các sử thần triều Nguyễn, Hội Đô Thành Hiếu Cổ (AAVH), Thái Văn Kiểm, Phan Văn Dật, Lê Văn Hoàng, Bửu Kế và hàng chục nhà nghiên cứu Huế hiện nay. Nhưng tôi chưa được nghe có ai trong họ tự nhận mình là nhà Huế học cả.

Tôi nhớ hồi mùa hè năm 1990, tôi được thầy giáo cũ ở Đại học Văn khoa Huế là cụ Vương Hồng Sển nhờ Tòa soạn báo Lao Động bảo tôi “Vào Sài Gòn thì đến nhà cho cụ gặp”. Tôi không biết chuyện gì mà thầy muốn gặp tôi như thế nên sau đó vào TP Hồ Chí Minh tôi liền đến thăm thầy ở 9/1 Nguyễn Thiện Thuật (gần chợ Bà Chiểu). Tôi bước vào nhà lúc thầy đang sắp mấy cuốn sách cũ vào tủ. Thấy tôi thầy bước vội tới bắt tay tôi và nói ngay:

-“Xuân ơi, tôi đã khóc khi đọc bài “Vấn đề lăng mộ vua chúa Nguyễn ở Huế bị đào: Đâu rồi những báu vật ?” trên báo Lao Động ngày 29-4-1990 vừa qua của Xuân. Tôi tự hào có một người học trò có tâm đi theo nghiệp văn hóa của tôi!”

Đời cầm bút cho đến năm 1990 tôi chưa bao giờ được khen như thế. Người khen là thầy giáo của mình, một chuyên gia hàng đầu về nghiên cứu văn hóa ở miền Nam – có giá trị biết bao. Tôi rất sung sướng.

Sau phút khen tặng, chúc mừng, hai thầy trò ngồi nói chuyện nghiên cứu văn hóa, tôi hỏi:

-“Thưa thầy, nhà văn Sơn Nam có phải là nhà Nam bộ học không?”

- “ Sơn Nam là người Nam bộ - thầy đáp, viết nhiều, nghiên cứu nhiều về Nam Bộ. Có lẽ vì vậy người ta cho Sơn Nam là nhà Nam bộ học. Theo tôi giữa nhà nghiên cứu Nam bộ và nhà Nam bộ học có khác nhau”.

-“Thưa thầy, khác nhau như thế nào?”

-“Để dễ hiểu, Xuân xem thử các nhà khoa học các ngành khác họ đã làm gì để được xem là nhà toán học (Mathématicien), nhà vật lý (physicien), nhà triết học (philosophe).v.v.? Các nhà học ấy họ đã tìm ra được những định đề, những hệ luận, các công thức trong toán học, cách thức vận hành của vật chất. Jean Paul Sartre được xem là nhà triết học, là triết gia vì ông đã tìm ra được Chủ nghĩa hiện sinh (L'existentialisme), nhà văn Albert Camus tác giả tiểu thuyết L’Étranger (Người xa lạ) được giải thưởng văn học Nobel (1957), được xem là nhà triết học hiện sinh vì ông đã đưa ra thuyết “Phi lý” (l’absurde). Các vị ấy là bậc thầy của các nhà nghiên cứu (chercheurs) toán học, vật lý, triết học. Tôi chưa đọc được những công trình viết về đặc điểm khái quát chung, những quy luật phát triển của văn hóa Nam bộ của Sơn Nam nên tôi…”.

Trong những năm 1965, 1966 tôi được học văn minh văn hóa Việt Nam với thầy Vương ở Đại học Văn khoa Huế. Càng về sau tôi càng thấy rất bổ ích khi nghiên cứu lịch sử văn hóa Huế. Sau lần được thăm thầy Vương và được thầy dạy về sự khác biệt giữa nghiên cứu Nam bộ và Nam bộ học đã mở ra cho tôi một hướng nghiên cứu Huế mới.

Theo đuổi việc nghiên cứu Huế gần nửa thế kỷ tôi vô tình bắt gặp được các hiện tượng văn hóa khác nhau có một mối quan hệ nội tại giống nhau. Mối quan hệ nội tại ấy luôn liên hệ với với lịch sử Huế.

Từ sau năm 1306, các vua Trần của nước Đại Việt đổi tên hai châu Ô, Lý của người Chăm-pa thành hai châu Thuận (順州) và châu Hóa (化州). Từ đó dân Đại Việt đã vào Huế nhiều đợt sống chung với người Chăm. Người Việt giao tiếp văn hóa Chăm và người Chăm cũng chịu “hóa” theo văn hóa của người Việt. Sự dung hợp đó đã tồn tại trên 700 năm. Cho đến nay vẫn còn trên 40 di tích, hiện vật Chăm hiện hữu trên đất Thừa Thiên Huế. Nổi bật nhất là Thành Lồi ở làng Nguyệt Biều (xã Thủy Biều Thành phố Huế), tháp đôi làng Liễu Cốc Thượng (phường Hương Xuân, thị xã Hương Trà), tháp Chăm Mỹ Khánh (xã Phú Diên huyện Phú Vang).

Tháp Chăm Mỹ Khánh, Ảnh:Võ Thạnh

Nhiều người Chăm ở Thừa Thiên Huế đã đổi sang họ Việt, nhưng cũng còn nhiều người vẫn giữ họ gốc Chăm. Ví dụ ở làng Vân Thê (xã Thủy Thanh, TX Hương Thủy) vẫn còn hai họ Chế và họ Văn rất nổi tiếng. Về vật chất của Chăm-pa trên đất Thừa Thiên Huế đã bị thời gian, bão lụt, chiến tranh hủy hoại, nhưng văn hóa Chăm sâu đậm tình người đã hòa quyện với văn hóa Việt đậm nhạt có khác nhau hình thành văn hóa Huế.

Những món ăn trong đời sống người Huế: tương, chao từ các chùa Phật miền Bắc đem vào. Nước mắm, ruốc, bánh tráng của người Chăm ở địa phương và từ miền Nam đưa ra.

Một đêm ca Huế hoàn chỉnh: Mở đầu bằng các làn điệu Bắc như Cổ bản, Phú Lục, Lưu thủy, Kim tiền, Mười bản Tàu…với âm sắc trang trọng, tươi vui. Về khuya tiếp nối các làn điệu Nam với Nam Bình, Nam Ai, Tương tư khúc… âm điệu buồn, nỉ non, sâu lắng. Xen giữa hai làn điệu Nam Bắc đó có làn điệu Bắc pha Nam như bài Tứ Đại Cảnh. Qua Ca Huế cho thấy Bắc Nam kề nhau và Bắc Nam phát triển thành một điệu chung là Huế.

Sư Bắc Nam phát triển thành Huế rõ nhất trong kiến trúc. Kiến trúc truyền thống Bắc có bộ mái lớn, thân, đài thấp (đình, chùa), kiến trúc Chăm-pa ở miền Nam (tháp Chăm) bộ mái gọn, thân cao vút. Chắc lọc từ hai truyền thống kiến trúc Bắc Nam ấy hình thành kiến trúc Huế có bộ mái thanh thoát, thân đài có tỷ lệ hài hòa với bộ mái đến mức khớp với tỷ lệ vàng (Hiển Lâm Các).

Bắc: Đình làng Đình Bảng Nam: Tháp Đôi Bình Định Huế: Hiển Lâm Các

Hai yếu tố Nam Bắc tạo nên kiến trúc Huế. Văn hoá Bắc với màu đó trong sáng, nóng. Văn hóa Nam dùng màu xanh dịu mát. Huế màu gì? Màu Huế là màu kết quả của màu đỏ (Bắc) với màu xanh (Nam) hòa quyện vào nhau sinh ra màu tím. Màu tím là màu Huế.

Không rõ triều Nguyễn có quan tâm gì đến tính cách Bắc Nam hay không mà khi quy hoạch thiết kế Kinh đô Huế trên hai bên bờ sông Hương đã thể hiện rất rõ tính cách ấy. Tổ chức triều đình Huế bên bờ Bắc theo mô hình của Trung Quốc (Bắc). Trên bờ Nam dành cho các chùa Phật lăng mộ vua chúa, ảnh hưởng Phật giáo từ Ấn độ (Nam).

Một điều kỳ lạ nữa là văn hóa Huế không những mang tính Bắc Nam mà còn hài hòa giữa kiến trúc của con người với thiên nhiên. Tiêu biểu cho tính cách nầy là kiến trúc Khiêm Lăng của vua Tự Đức. Các trụ biểu trong khu lăng vua thường rất cao thể hiện cho đức độ và sự nghiệp to lớn của nhà vua. Nhưng các trụ biểu trong lăng vua Tự Đức không được cao hơn cây thông trong Khiêm Lăng. Sự khiêm tốn của nhà vua khiến cho các kiến trúc trong Khiêm Lăng hài hòa với thiên nhiên. Các nhà nghiên cứu kiến trúc ngày nay nhận định rằng kiến trúc khu lăng tẩm vua Tự Đức là kiến trúc phong cảnh (architecture paysagiste) – kiến trúc mà thế kỷ XXI đang hướng đến.

Họa sĩ Phạm Đăng Trí, tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Đông Dương, giáo sư trường Mỹ thuật Huế đã đào tạo nên hàng trăm họa sĩ nổi tiếng . Ông cũng là nhà nghiên cứu nghệ thuật Huế. Nghiên cứu màu sắc trên Pháp Lam của nhà Nguyễn ông đã tìm ra được cặp màu tương phản đẹp nhất của Huế. Đó là cặp màu Vàng (nóng) - Chàm (lam, mát). Có thể bắt gặp cặp màu nầy qua màu áo của các sư, sãi (vàng) và của Phật tử-gia đình Phật tử Huế (lam) mặc đi lễ chùa.

Từ đặc tính Nam-Bắc, Nóng Lạnh, văn hóa Huế còn biểu hiện tính âm dương nữa. Tháng 5 (nóng) ăn thịt vịt (mát) phải chấm nước mắm gừng (nóng), ăn hột vịt lộn (mát) cần có muối tiêu và rau răm (nóng). Ăn thịt heo luộc (thịt ba chỉ) phải kèm theo giá chua, khế chua. Chất a-xit trong giá chua, khế chua giúp tiêu hóa chất ba-zờ của thịt mỡ.

Điều kỳ lạ nữa là thổ nhưỡng khí hậu Huế thích hợp với hoa trái của hai miền Nam Bắc. Ngày tết trong vườn An Hiên hoa đào (Bắc) cùng nở bên cạnh hoa Mai (Nam), theo mùa hồng tiến (Bắc) sum sê quả ngọt bên măng cụt (giáng châu), sầu riêng (Nam).

Huế từng là nơi đặt thủ phủ của nhiều triều đại, nhiều người ở hai miền Nam Bắc về đây làm quan gây dựng nên những dòng họ nổi tiếng. Họ Nguyễn Khoa gốc Hải Dương, họ Cao Xuân, Lê Huy gốc Nghệ An – Bắc, họ Phan Thanh gốc Vĩnh Long, họ Phạm Đăng gốc Gò Công - Nam.v.v.Người của các dòng họ nầy được Huế hóa trở thành những dòng họ tiêu biểu của Huế.

Được nuôi dưỡng bởi truyền thống văn hóa Huế, người Huế có thể sống chan hòa với người miền Bắc và hội nhập dễ dàng với người miền Nam. Cái tính cương nhu của người Huế rất thích hợp với ngành ngoại giao. Ngành ngoại giao Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, buổi đầu có rất nhiều người Huế và người gốc Huế.

Những biểu hiện, những tính cách riêng trong văn hóa Huế nêu trên dù lớn, dù nhỏ nhưng chúng đã đạt đến đỉnh, người Huế rất tự hào về văn hóa Huế của mình. Trải qua năm tháng dài lâu không thay đổi. Có thể xem đó là di sản của đời sống người Huế.

Có thể tóm gọn: Văn hoá Huế dung hợp văn hóa của hai vùng văn hóa Bắc Nam, có thể xem là văn hoá của nước Việt Nam thống nhất. Chịu ảnh hưởng của hai vùng văn hóa lớn của nhân loại là Trung Quốc và Ấn Độ nhưng văn hóa Huế không là Trung Quốc (như Nhật Bản và Hàn Quốc), không là Ấn Độ (như Căm-pu-chia và Lào) – hai nước cùng nằm trên bán đảo Đông Dương. Văn hóa Huế là văn hóa Ấn Trung (Indochine).

Tất cả những phát hiện Nam Bắc, nóng lạnh, âm dương, trong từng thành tố vật chất hay phi vật chất trong văn hóa Huế nêu trên đều nằm rải rác trong tâm trí tôi từ lâu. Tôi bắt gặp chúng khi đọc sách báo, nghe các thầy dẫn giải hay trong các cuộc điền dã. Tất cả những hiểu biết rời rạc đó hiện ra trong tâm trí tôi sau khi tôi nghe thầy Vương Hồng Sển giảng giải về sự khác biệt giữa nhà nghiên cứu văn hóa Nam bộ và nhà Nam bộ hoc, tôi nghĩ đến nhà Huế học. Tôi cũng đã nói hay viết ở đâu đó về đặc điểm Bắ Nam trong văn hóa Huế. Nhưng rất sơ lược. Lần này nhâng Hội Nghiên cứu và Phát triển Di sản Văn hoá Huế chuẩn bị cho ra đời trang Web Huế học, tôi viết bài này kỹ hơn. Đây chỉ là một tản mạn hướng đến Huế học chứ chưa phải là một nghiên cứu khẳng định Huế học là như thế. Tôi ước mong trong thời gian tới các nhà nghiên cứu Huế trong và ngoài nước có một công trình Huế học là gì và vì sao tỉnh Thừa Thiên Huế cần phải có ngành Huế học. Rất mong.

Viết trong lúc chờ Bão số 9 tháng 10 năm 2020.

Nguyễn Đắc Xuân

Trở lại đầu trang