Thuyết trình hội di sản Huế

Trang chủ · Giới thiệu · Mục đích Website

HỘI NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN DI SẢN VĂN HÓA HUẾ

Thuận Hóa/Phú Xuân/Huế từng là Thủ phủ của Xứ Đàng Trong, Kinh đô nước Đại Việt thời Quang Trung, Kinh đô nước Việt Nam/Đại Nam thời Nguyễn. Kinh đô của Phật giáo xứ Đàng Trong. Trải qua lịch sử hơn 700 năm Thuận Hóa/Phú Xuân/Huế đã để lại cho dân tộc một kho tàng Di sản văn hóa vô cùng to lớn, không nơi nào trên toàn cõi VN có thể so sánh được. Trước tiên là con người rồi về di tích lịch sử, chùa tháp, thành quách, cung điện, sông, núi, hồ, biển, đầm phá, cảng nước sâu, văn học, nghệ thuật, kiến trúc, kiến trúc Âu, trang phục, âm nhạc (Nhã nhạc, âm nhạc Phật giáo – tụng, tán, Âm nhạc truyền thống-Ca Huế), Hát bội, Giáo dục, Ngự y, Ngự dược, Ẩm thực, Nghề kim hoàn, Mộc mỹ nghệ, Nhà rường, Nghề đúc đồng, Pháp lam, Dâu Truồi, Quít Hương Cần, Thanh trà Nguyệt Biều, cá nước lợ, nước sông Hương.v.v. Sau ngày thống nhất đất nước (1975), chính quyền từng bước đã nghiên cứu di sản, phát triển di sản đưa vào phục vụ văm hóa du lịch. Đã có 5 di sản văn hóa Huế đã được UNESCO công nhận là di sản vật thể và phi vật thể của thế giới. Dù nhà nước xã hội chủ nghĩa chưa công nhận Huế là thành phố văn hóa, thành phố di sản văn hóa của dân tộc nhưng trong lòng người dân trong và ngoài nước, người Huế hay người các nước đều nghĩ rằng Huế là thành phố văn hóa Việt Nam. Huế là một bài thơ đô thị tuyệt tác. Tuy nhiên trong xu thế hội nhập phát triển đột khởi hiện nay nhìn lai những thành tựu phát triển di sản văn hóa đã đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội, nhất là chưa đạt được những yêu cầu của Nghi quyết 54 của Bộ Chính trị đưa tỉnh TTH thành thành phố di sản trực thuộc TW. Sự phát triển chưa tương xứng về mọi mặt thể hiện trong các vấn đề sau đây:

- Các ngành chức năng của nhà nước xưa nay quan tâm đến nghiên cứu chứ xem nhẹ việc phát triển;

- Các ngành Văn hóa, Du lịch, trùng tu tôn tạo về di tích, chứ chưa đặt đúng mức về di sản văn hóa Huế;

- Khi đặt ra vấn đề nghiên cứu và phát triển di sản thì các ngành chức năng của nhà nước không kham nổi.

I. Thành lâp Hội Nghiên cứu & Phát triển Di sản văn hóa Huế

Vì thế mà nhà nước đã chủ trương xã hội hóa việc nghiên cứu, bào vệ, phát huy di sản văn hóa Huế, để xã hội đồng hành với nhà nước phát triển di sản thành tài sản cho đất nước. Nhờ nhà nước có chủ trương đó mà 05 anh chi em chúng tôi gồm Nguyễn Đắc Xuân (nhà nghiên cứu), Mai Thị Trà (nhà giáo hưu trí, chuyên gia gia ẩm thưc), Trần Nguyên Vấn (Chủ nhiệm CLB Văn hóa Huế tại Hà Nội), Trần Đình Sơn (NNC Lịch sử Văn hóa, cổ vật VN), Hồ Viết Vinh (Giảng viên ĐHKT TP HCM, chuyên gia quy hoạch đô thi) đã được UBND tỉnh TTH ký Quyết định 2258/QĐ-UBND, ngày 3-9-2020 cho phép thành lâp Hội Nghiên cứu & Phát triển Di sản văn hóa Huế (viết tắt là Hội)..

Tôn chỉ và mục đích: Hội là một tổ chức xã hội của mọi công dân Việt Nam, có tình yêu đối với Huế và yêu di sản văn hóa Huế; hoạt động trong lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu, phát triển di sản, tham gia phản biện và bảo vệ các thành tựu văn hóa của dân tộc để lại ở Huế, góp phần làm cho Huế ngày càng đẹp hơn và luôn giữ được những giá trị văn hóa đặc trưng vốn có trong lòng nhân dân Việt Nam cũng như bạn bè quốc tế; tự nguyện thành lập, nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên, hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần cùng với chính quyền hoàn thành sứ mệnh bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Huế.

II. Cố đô Huế - một trung tâm văn hóa lịch sử lớn nhất của nước Việt Nam.

Về Di sản Cố đô Huế, lâu nay chưa có một công trình nào khảo sát nghiên cứu thống kê một cách đầy đủ. Di sản Cố đô Huế gồm có những gì ở đâu, hiện nay ra sao. Cũng không có người quan tâm đến vô số di sản ra đời trong môi trường văn hóa của Cố đô Huế để lại. Phải có một cuộc điều tra khoa học, chi tiết mới thấy hết được cái khối di sản phong phú, khổng lồ không nơi nào có được của Cố đô Huế. Sau đây tôi chỉ gợi lên một số để dẫn chứng cho bài viết này.

2.1. Di sản vật chất và phi vật chất đã được UNESCO công nhận;Quần thể di tích Cố đô Huế,Nhã nhạc cung đình Huế,Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu, Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ,Mộc Bản triều Nguyễn, Thơ văn trên Kiến trúc Cung đình Huế,Châu Bản triều Nguyễn, Mộc bản Triều Nguyễn.

2.2. Kho sách di sản Hán Nôm do Quốc sử quán triều Nguyễn sưu tập và biên soạn đồ sộ vô giá hơn mọi thời đại trong lịch sử VN: Thơ văn của các vua triều Nguyễn, các bộ sách sử Đại Nam Thực Lục, Đại Nam Nhất Thống Chí đời Tự Đức và đời Duy Tân, Đại Nam Liệt Truyện, Đại Nam Hội Điển Sự Lệ,Đại Nam Quốc Ngữ, Hoàng Việt Luật Lệ.v.v.(một số đang ở nước ngoài và các tủ sách gia đình ở Việt Nam);

2.3. Mộc Bản, Địa Bạ triều Nguyễn (đang lưu giữ ở Dinh Thống Nhất TP HCM, học giả Nguyễn Đình Đầu đã dịch), Mộc Bản trong các Phủ Phòng của các Ông hoàng Bà chúa triều Nguyễn, Mộc Bản trong các chùa; Sắc Tứ, trong các đình chùa, gia phả, tộc phả của các dòng họ Nguyễn Phúc Tộc, Nguyễn Khoa, Hoàng Trọng, Thân Trọng, Hà Thúc.v.v.

2.4. Cung điện Đan Dương/sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung ở Ấp Bình An, các Phủ, Phòng, lăng mộ của các Ông hoàng,Bà chúa triều Nguyễn nổi tiếng như Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, Mai Am, Huệ Phố; Nhà thờ hát Bội Thanh Bình Tự Đường (ra đời từ thời Minh Mạng); Các ngôi chùa vua, chùa Sắc tứ, các ngôi chùa ra đời thời các chúa Nguyễn như chùa Quốc Ân, chùa Thuyền Tôn, chùa Thiền Lâm, chùa Khánh Vân, các chùa của người Minh Hương dọc phố Gia Hội.v.v. ,

2.5.Di sản phi vật chất. Luật lệ (về Quan trường, Hồi tỵ,Dưỡng liêm, Khoa cử, Đình nghị, Tứ bất lập.v.v.), Quy hoạch (xây dựng Kinh thành Phú Xuân theo phong thủy, khu phố Tây ở nam sông Hương), Kiến trúc (Nhà Rường, Đình làng, các Cổ Tự, Lăng mộ), Mỹ thuật triều Nguyễn; Di sản về Ngự Y (Nhà thương Huế - BV Trung ương Huế ngày nay) , Giáo dục (Các tác giả viết sách Giáo khoa, trường Quốc Học, trường Đồng Khánh/ Hai Bà Trưng, trường Quốc Tử Giám, Văn Thánh, Võ Thánh); Kho tàng ca Huế và Dân ca, âm nhạc Phật giáo Thuận Hóa Phú Xuân. v.v.

2.6. Di sản phát huy từ Nhã nhạc, Ca Huế, cảnh quan thiên nhiên và không gian di sản của triều Nguyễn để lại: Truyền thống học Hán Nôm;Di sản Trang phục (quốc phục, áo dài phụ nữ, nón bài thơ), Ẩm thực (1700 món, đặc biệt các món ăn chay, Ngự thiện), thơ (Đây thôn Vỹ Dạ); âm nhạc (Đêm Tàn Bến Ngự, Tiếng Sông Hương, Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi.v.v.);

2.7. Di sản thiên nhiên: Sông Hương, nước sông Hương, Núi Ngự; Phá Tam Giang, Cổ thụ trên vài trăm tuổi (Cây thị ở trước sân nhà thờ phái Thân Văn làng Dương Xuân Hạ, phường Thủy Xuân, trồng từ năm 1698), Phố cổ Bao Vinh, Phố cổ Gia Hội, cảng biển Thuận An; Nhà thờ cụ Phan Bội Châu, Bảo tàng Chủ tịch Hồ Chí Minh –thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế, các làng Kế Môn (Kim Hoàn), Hiền Lương (thợ rèn).v.v.;

2.8. Đô thị châu Âu. Trên bờ nam sông Hương, người Pháp đã xây dựng rất sớm những kiến trúc châu Âu ở Việt Nam, hài hoà với cảnh quan thiên nhiên như cầu Trường Tiền (1900), Nhà máy nước Vạn Niên, Nhà hàng khách sạn Morin (1901), ga Huế, sở Công chánh (nay là hai tòa nhà Bảo tàng Văn hóa Huế), Nhà thương/Bệnh viện Huế (1894), trường Đồng Khánh (1917, nay là trường Hai Bà Trưng), trường Quốc Học (1896), Viện Dân biểu Trung Kỳ (nay là VP Đại học Huế, 3 Lê Lợi), Nhà thờ Phường Đúc, nhà thờ Phú Cam, nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế.v.v.

2.9. Di sản phi vật chất vô giá thời Pháp để lại: Đó là bộ tập san Đô Thành Hiếu Cổ - Bulletin des Amis du Vieux Hué, ra đời từ năm 1914, tồn tại cho đến năm 1944. Mỗi quý (3 tháng) ra một tập, suốt 31 năm ra đời được 121 tập và một tập danh mục gồm 500 bài nghiên cứu và hơn 30 bài tiểu dẫn chú giải quan trọng. Các tác giả là người Pháp và người Việt. Nổi tiếng nhất là Linh mục L. Cadière (trên 70 bài), R.Orband (30 bài), Cosserat (30 bài), Nguyễn Đình Hòe (10 bài), Đào Thái Hạnh (thân sinh của bà Đào Thị Xuân Yến/bà Nguyễn Đình Chi), Ưng Trình (cháu nội của Tùng Thiện Vương), Nguyễn Đôn, Hoàng Yến, Bửu Liêm, Võ Liêm, Đào Duy Anh.v.v.BAVH đã góp phần không nhỏ trong công việc nghiên cứu Huế xưa, Kinh thành Huế và vùng phụ cận, lịch sử triều Nguyễn và Huế, nghệ thuật, ngôn ngữ xứ Huế. BAVH là một công trình nghiên cứu lịch sử triều Nguyễn và Huế xưa vô tiền khoáng hậu. Một di sản không nơi nào có được trên toàn cõi VN.Toàn bộ di sản nầy và hàng trăm tư liệu quý hiếm khác chưa đưa lên BAVH đang được ông Jean Cousso –cháu ngoại BS Sallet –nguyên TTK Tòa soạn BAVH giữ tại Pháp. Ông J.Cousso nhiều lần về Huế tìm nơi chuyển lại cho Cố đô Huế nhưng chưa thực hiện được. Ngoài bộ BAVH, người Pháp và người các nước cũng đã để lại hàng trăm đầu sách viết về Cố đô Huế như Guide de l’Annam của Ph. Eberhadt (Thầy của vua Duy Tân) (Paris 1914), HUÉ la mystérieuse của Louis Chochod (Paris 1943), Quan Sự Cẩm Nang của Phạm Huy Lục (Hà Nội 1929), Les Tombeaux Des Nguyễn của Richard (BEFEO, HN 1914), Les ARÈNNES DE HUÉ của R.P.Barnouin,(BSEI, XI.IX-3, 1974).v.v..

2.10. Di sản quý nhất là con người.

2.10.1.Tiềm năng con người của Cố đô Huế. Đề cập đến tiềm năng du lịch hay khi chỉ đạo tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện nội dung Nghị quyết 54 của Bộ Chính trị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc [2] đã nhiều lần nhắc tỉnh TTH “Phải phát huy tiềm năng, thế mạnh riêng không phải tỉnh nào cũng có được như lĩnh vực trí tuệ; di sản hữu hình và vô hình; cuộc đời sự nghiệp của những bậc vĩ nhân, nhà tư tưởng, nhân vật lỗi lạc, tài hoa mà mỗi cuộc đời gắn với một câu chuyện, địa danh cụ thể chứ không chỉ nói về văn hóa đền đài, lăng tẩm, các di sản vật thể khác”. Đó là tiềm năng con người rất to lớn của tỉnh TTH. Vua chúa các triều đại Nguyễn: Nguyễn Hoàng đặt ra chủ trương mở nước về phương Nam, Nguyễn Huệ/Quang Trung “lấp” sông Gianh nối lại hai xứ Đàng Ngoài và Đàng Trong, chiến thắng 29 vạn quân Than ngày Xuân năm Kỷ Dậu (1789), Trần Văn Kỷ, Nguyễn Ánh/Gia Long thống nhất Việt Nam lập nên triều Nguyễn huy hoàng để lại cho Việt Nam một Cố đô ngang tầm quốc tế, Minh Mạng hoàn chỉnh nền hành chính VN bền vững, Tự Đức giỏi lịch sử văn thơ Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân yêu nước, Thời Niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Huế.v.v.

2.10.2. Phật giáo. Hòa thượng Liễu Quán, HT Thích Đôn Hậu, HT Thích Trí Quang, Sư bà Thích nữ Diệu Không,Thiền sư Thích Nhất Hạnh với Thiền Chánh Niệm từ Huế truyền bá khắp Âu, Mỹ.v.v.;

2.10.3. Phụ nữ có Huyền Trân Công chúa ngàn dặm ra đi để cho nước Đại Việt có thêm hai châu Thuận, Hóa. Có Ngọc Vạn, Ngọc Khoa lấy vua Chiêm, vua Chân Lạp giúp mở nước về Phương Nam, có bà Từ Dũ mẫu nghi thiên hạ, có Hoàng hậu Nam Phương giúp vua Bảo Đại kết thúc triều Nguyễn giữ được hạnh phúc cho, muôn dân, có Đạm Phương nữ sử, có bà Nguyễn Đình Chi (Đào Thị Xuân Yến) – người phụ nữ yêu nước nối văn hóa truyền thồng với hiện đại ở Huế, có Hoàng Thị Kim Cúc – cô giáo dạy nữ công ở trường Đồng Khánh từng là nguồn cảm hứng cho Hàn Mặc Tử sáng tác bài thơ bất hủ Đây Thôn Vỹ Dạ bất hủ.v.v.. .

2.10.4. Văn nghệ sĩ: Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương (Văn như Siêu Quát vô tiền Hán, Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường), Mai Am, Huệ Phố, Ông Già Bến Ngự (nhà yêu nước Phan Bội Châu), Ưng Bình Thúc Giạ, Nhà văn Thanh Tịnh, nhà thơ Tố Hữu, nhà thơ nhà Huế học Phan Văn Dật, các họa sĩ Lê Văn Miến, Tôn Thất Sa, Tôn Thất Đào, Nguyễn Khoa Toàn (1898-1965), nhà thơ Phan Văn Dật, Họa sĩ Phạm Đăng Trí, họa sĩ Bửu Chỉ, họa sĩ Vĩnh Phối, Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, các nhạc sĩ: Ông Hoàng Nam Sách, ông Hầu Biều, nhạc sư Nguyễn Hữu Ba, NS Nguyễn Văn Thương, NS Trịnh Công Sơn, nhà soạn nhạc không lời Tôn Thất Tiết,nhà tư tưởng duy tân Nguyễn Lộ Trạch, nhà văn Mác-xít Hải Triều Nguyễn Khoa Văn; các nhà nghiên cứu: Thái Văn Kiểm, Bửu Kế, Phan Thuận An, các làng nghề phục vụ Kinh đô Phú Xuân – Thợ thêu, Thợ đúc đồng Phường Đúc, thợ mộc ở Mỹ Xuyên, thợ Kim hoàng Kế Môn với hai vị tổ Cao Đình Độ và Cao Đình Hương.v.v.

III. Phương hướng tổ chức Hội

3.1. Hội viên.- Thành lập Hội, Hội kết nạp hội viên theo chức năng thuộc các thành phần sau:

3.1.1. Các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Huế, các nhà dịch thuật Hán Nôm, Pháp, Anh. Đây là lực lượng chủ chốt thực hiện điều tra, sưu tầm, nghiên cứu, đánh giá di sản, thống kê, thành lập quỹ di sản văn hóa Huế;

3.1.2. Các nhà hoạt động văn hóa có kinh nghiệm phát triển di sản, đưa di sản vào phục vụ văn hóa, du lịch; các thành viên cá nhân hay đứng đầu một tổ chức trong xã hội như Giám đốc các bảo tàng tư nhân, những nhà sưu tầm cổ vật, sưu tầm trang phục cổ, quốc phục, ẩm thực Huế, ẩm thực chay và ẩm thực Cung đình, ngự y,

3.1.3. Các nhà tài trợ, vận động tài trợ cho các công trình nghiên cứu phát triển di sản văn hóa Huế của hội;

( Hiện nay Ban Vận động đã nhận được trên 60 đơn đăng ký gia nhập Hội).

Ngoài ra Hội còn có hàng chục thành viên danh dự gồm các vị hưu trí có công trong nghiên cứu lịch sử văn hóa Huế, những người nước ngoài, Việt kiều yêu Huế đang ở nước ngoài;

Đặc biệt Hội là nơi quan tâm đến giới trẻ cảm tình viên (sympathisant) đối với di sản văn hóa Huế. Sau một thời gian hoạt động, Hội sẽ kết nạp nâng cảm tình viên có công thành Hội viên chính thức.

3.2. Tổ chức Hội:

3.2.1. Đại hội, nhiệm kỳ 5 năm;

3.2.2. Ban Chấp hành Hội;

3.2.3. Ban Thường vụ Hội;

3.2.4. Ban Kiểm tra;

3.2.5. Ban hỗ trợ;

3.2.6. Văn phòng Hội và các bộ phận chuyên môn.

3.3. Nội dung hoạt động:

3,3,1, Hội có trang Web NC&PT Di sản Văn hóa Huế với tên Huehoc cập nhât thông tin hoạt động của Hội, đăng tải các nghiên cứu, sưu tầm, phát hiện di sản mới;

3.3.2. Tập san NC&PT Di sản Văn hóa Huế, được xuất bản mỗi sáu tháng. Nội dung tuyển chọn những bài mới trên trang Web, các nghiên cứu mới, các sưu tầm những bài hay trên mọi nguồn. Cũng có thể xuất bản tập san theo chuyên đề của Hội hay của các doanh nghiệp đặt hàng.

3.3.3. Vận động tài chính xuất bản các công trình NC&PT Di sản Văn hóa Huế;

3.3.4. Hội lập một tủ sách Thư mục tư liệu hình ảnh NC&PT Di sản Văn hóa Huế. Đây cũng là nơi gởi gắm di sản của những người yêu Huế gần xa;

3.3.5.Văn phòng Hội là nơi môi giới cho những người muốn tìm hiểu, nghiên cứu Huế học, các dòng họ ở TTH.

3.3.6. Thực hiện các đề tài Huế học của Nhà nước và tư nhân đặt hàng; phản biện các công trình nghiên cứu, bảo vệ và phát triển của Nhà nước và tư nhân về di sản văn hóa Huế.

Hoạt động tự nguyện vì di sản văn hóa Huế trước mặt và lâu dài. Hội ưu tiên cho những hoạt động nền móng của Hội: hiểu rõ di sản văn hóa Huế là gì, quỹ Di sản, các nhà nghiên cứu di sản văn hóa Huế qua các thời kỳ, tủ sách nghiên cứu, Thư mục, quy chế làm việc của Ban Chấp hành, Ban Thường trực, Ban kiểm tra, quy chế của các Hội viên tập thể trong Hội, hoạt động của Văn phòng Hội, những việc cần phải làm ngay.

Xây dựng các hoạt động nền móng cơ bản này ngoài nhiêt tình trí thức cần phải có một ngân khoản vừa phải ban đầu. Ngoài sự chung tay của Ban vận động 5 người, kính mong các nhà yêu Huế gần xa, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp văn hóa du lịch Huế chia sẻ. Hảo tâm của các nhà tài trợ ban đầu được ghi nhận như những thành viên sáng lập Hội.

Một tập thể nghiên cứu lịch sử di sản văn hóa khó có người trẻ. Tuổi già đau đáu nỗi lo không thể mang theo vào cõi chết những gi mình đã học hỏi, thể nghiệm tích lũy của cả đời mình. Cho nên hạnh phúc của tuổi già là được có cơ hội trao truyền vốn liếng, trí thức của mình cho những người đến sau. Với tuổi đời còn lại, chúng tôi không hy vọng mình còn có thể đóng góp được gì to lớn cho Huế, chỉ mong để lại con đường mà trải qua bao năm cả thế hệ chúng tôi mới tìm được: Với tấm lòng yêu Huế, bằng phương pháp khoa học đánh thức di sản thiên nhiên, con người, vật chất phi vật chất của lịch sử để lại, vận động biến di sản thành tài sản để cho Huế được xem là Thành phố có bát hương của văn hóa Việt Nam.

Hội Nghiên cứu và phát triển Di sản Văn hóa Huế là một tổ chức xã hội. Xã hội luôn là chỗ dựa của Hội. Đặt mình trên nền tảng như thế nên chúng tôi tin Hội sẽ thành công.


Quý thân hữu nghĩ gì về niềm tin của chúng tôi?

Kính mong được tiếp nhận.

Huế, ngày 3-10-2020

TM Ban Vận Động thành lập Hội NC&PT Di sản Văn hóa Huế.

NGUYỄN ĐẮC XUÂN

 

Trở lại đầu trang